Hoạt động chính

    NGƯỜI THẦY CÓ 2 HỌC TRÒ XUẤT SẮC ĐƯỢC NHẬN GIẢI THƯỞNG NGUYỄN VĂN ĐẠO

    Năm nay giải thưởng Nguyễn Văn Đạo năm 2018- giải thưởng danh giá nhất của ngành Cơ học Việt Nam được trao cho TS Hoàng Văn Tùng,
    giảng viên ĐH Kiến trúc , học trò của GS Nguyễn Đình Đức.
    Như vậy đến nay ngành Cơ học Việt Nam có 4 người được nhận giải thưởng này:
    1. TS. Nguyễn Xuân Hùng, ĐHKHTN HCM, 2011
    2. TS. Lê Đình Tuân, ĐHBK HCM, 2014
    3. TS. Trần Quốc Quân, ĐH Công nghệ, ĐHQGHN, 2016
    4. TS. Hoàng Văn Tùng, ĐH Kiến trúc HN, 2017
    Trong số 4 giải thưởng Nguyễn Văn Đạo đã có 2 là học trò GS Nguyễn Đình Đức là:
    Trần Quốc Quân, SN 1991, giải thưởng NVĐ 2016
    Hoàng Văn Tùng, SN 1981, giải thưởng NVĐ 2017
    TS Trần Quốc Quân được giải thưởng Nguyễn Văn Đạo khi còn rất trẻ, mới 25 tuổi đời và khi đó vẫn còn đang là NCS của Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN;
    TS Hoàng Văn Tùng nguyên là NCS của trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN.
    Cả 2 em đều là là học trò được GS Nguyễn Đình Đức hướng dẫn trực tiếp làm luận án TS.
    ĐQGHN xứng đáng là cái nôi đào tạo nhân tài.
    Xin chúc mừng TS Hoàng Văn Tùng, chúc mừng GS Nguyễn Đình Đức và cả nhóm nghiên cứu của ông.
    Thành công của 2 em sẽ là động lực để các thế hệ đàn em đi sau tiếp bước.
    Hy vọng Nhóm nghiên cứu của GS Đức sẽ có nhiều học trò xuất sắc như thế, được vinh danh bằng các giải thưởng quốc gia, quốc tế.
    GS Nguyễn Văn Đạo nguyên là Giám đốc đầu tiên của ĐHQGHN, nguyên Chủ tịch đầu tiên Hội Cơ học Việt Nam, ông cũng là Chủ tịch Hội đồng Quỹ trong KHTN, tiền thân của Quỹ Nafosted ngày nay.
    Trong ảnh: GS Nguyễn Đình Đức cùng GS Nguyễn Văn Đạo trong chuyến thăm Hàn Quốc năm 2005:
    Thăm Tập đoàn SK; Quỹ nghiên cứu Hàn Quốc, ĐH Seoul và Viện KIST
    Đọc tiếp

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Người con miền đất học Lai Xá

    NGƯỜI CON MIỀN ĐẤT HỌC LAI XÁ:
    LÀNG LAI XÁ - thuộc xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội nằm ngay sát thị trấn Nhổn, cách Trung tâm Thủ Đô Hà Nội tầm 13 km, là miền đất học. Thánh Hoàng Làng của làng là đức Thánh Trần Cao (thân sinh Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Ngài đã có thời gian sống ở đây, giúp dân làng sinh cơ lập nghiệp, vì vậy dân làng phải luôn phải kiêng kỵ tránh phạm húy, nói trệch "cao"" thành ""kiêu"). Đây cũng là quê hương của GS Nguyễn Văn Huyên nguyên Bộ trưởng Bộ giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quê hương của GS Nguyễn Quang Riệu (Việt Kiều Pháp), nhà thiên văn học xuất sắc. Đây cũng là làng nghề Nhiếp Ảnh nổi tiếng và là quê hương của cụ Khánh Ký, cụ tổ làng nghề Nhiếp Ảnh Lai Xá (người đã truyền nghề ảnh cho Nguyễn Ái Quốc khi Người còn trẻ, hoạt động cách mạng ở Paris), và Lai xá quê ngoại, cũng là mảnh đất chân rau cắt rốn, nơi sinh của GS Nguyễn Đình Đức, Giám đốc PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến.
    Trân trọng giới thiệu với các bạn bài viết này trên báo "" Việt Nam hội nhập"" số tháng 11-2017, tháng tri ân các thầy cô giáo của Việt Nam:

    VNHN - Hình ảnh in đậm trong tâm trí của nhiều người đã từng làm việc và tiếp xúc với ông chính là nhiệt huyết và sự uyên thâm của một nhà khoa học, kinh nghiệm và năng lực cao của một nhà quản lý, cùng cái tâm nghề, tâm đời mà ông luôn gìn giữ trong cuộc sống và sự nghiệp. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Đào tạo đại học và sau đại học (Đại học QGHN) mãi là tấm gương sáng về một người trí thức để lớp trẻ học tập, noi theo.

    Một thời để nhớ

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức sinh năm 1963 trong một gia đình có truyền thống hiếu học và cách mạng tại thôn thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức (Hà Tây cũ), nay thuộc Hà Nội. Quê nội ông ở thôn Huề Trì, xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương - mảnh đất địa linh nhân kiệt. Bố mẹ ông đã để lại cho ông niềm tự hào về truyền thống gia đình, về ý chí vươn lên vì nghĩa lớn; để rồi khi trưởng thành, dẫu phải trải qua bao gian khó, nhọc nhằn, ông vẫn không nản chí, vẫn vượt qua tất cả để thực hiện hoài bão của mình.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

    Năm 6 tuổi, Nguyễn Đình Đức đã sớm xa quê hương vì gia đình lên lập nghiệp ở Yên Bái, một thị xã miền núi Tây Bắc. Ông là học sinh xuất sắc nhất của lớp chuyên toán khóa 1 của tỉnh Hoàng Liên Sơn (1978), và cũng là thủ khoa của Khoa Toán - Cơ trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khi chưa đầy 21 tuổi (1984), ông được trường Đại học Tổng hợp đề nghị và Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ (khi đó đang là Bộ trưởng Bộ Đại học) quyết định cho  ông được tham gia kỳ thi chọn NCS đi nước ngoài. Và ngay kỳ thi tuyển NCS năm 1985, ông đã đỗ đầu với số điểm cao nhất. Giáo sư Nguyễn Đình Đức đã được Tạp chí “Who is who in the World” của Mỹ đưa vào danh mục những nhân vật nổi tiếng trong lần xuất bản thứ 18 từ năm 2001.

    Ngọn lửa say mê trong học tập, khát vọng lớn lao trong nghiên cứu khoa học, đã tạo nên ở người trí thức Nguyễn Đình Đức chiều sâu của trí tuệ trong những hoạt động khoa học và hoạt động quản lý của mình trên suốt chặng đường dài cống hiến của ông. Nhưng cũng phải nói rằng, ở ông không chỉ đơn thuần là phẩm chất của một nhà khoa học, mà còn có cả bản lĩnh của một nhà quản lý giỏi. Có thể nói, những năm tháng đầu dựng nghiệp của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức không phải là một mạch của sự “xuôi chiều”, mà có không ít những cung đoạn khác nhau của cuộc sống và sự nghiệp. Nhưng dẫu sao, sự vất vả đó cũng giúp ông có thêm những trải nghiệm thực tiễn, làm nền cho những bước đi tiếp theo được vững vàng hơn.

    Dẫu tài không thể thiếu tâm

    Sự nghiệp nghiên cứu khoa học và công tác quản lý của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức thực sự đi vào chiều sâu và mang tính tập trung cao kể từ khi ông được Bộ Đại học cử đi làm luận án tiến sĩ ở Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcơva mang tên Lômônôxốp (MGU). Đối với ông, đây chính là bước ngoặt lớn trong cuộc đời. Nơi đây chính là môi trường để ông tiếp xúc và học hỏi từ các nhà khoa học Xô Viết lỗi lạc và trưởng thành. Tại đây, ông đã bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sỹ Toán - Lý với đề tài “Các tiêu chuẩn bền của composite cốt sợi đồng phương” dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Pobedrya B.E, Chủ nhiệm Bộ môn Cơ học vật liệu composite tại ĐH Tổng hợp Quốc gia Maxcơva mang tên Lômônôxốp (MGU) - nơi hội tụ của các nhà khoa học Xô Viết lỗi lạc, và sau đó tiếp tục bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sỹ khoa học ở Viện Hàn lâm Khoa học Nga khi 34 tuổi. Kết quả nghiên cứu về composite siêu bền có cấu trúc không gian của ông đã được cấp bằng phát minh, năm 1999.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức tham dự phiên họp thứ nhất Hội đồng Khoa học Đào tạo của Đại học Việt Nhật tại Nhật Bản

    Trong thời gian học tập và công tác tại LB Nga, ông được tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tại LB Nga (1999-2001), thành viên nước ngoài của Viện Hàn Lâm Khoa học Tự nhiên Nga (1999) và Viện Hàn Lâm Phát minh và Sáng chế Quốc tế (1999), Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa V (1999-2004). Năm 1997, với thành tích nghiên cứu xuất sắc, TS Nguyễn Đình Đức được Trường Đại học Tổng hợp Clemson (Hoa Kỳ) mời ông sang làm trợ giảng. Trước những lời động viên cố vấn của bạn bè và nhiều đồng nghiệp khuyên ông nên sang Hoa Kỳ, nhưng ông lại quyết định tích lũy sâu hơn nữa kiến thức và kinh nghiệm để trở về Việt Nam làm việc. Bởi ông muốn phát triển hơn nữa điều kiện nghiên cứu và giảng dạy, xây dựng và đào tạo đội ngũ thế hệ trẻ giải quyết các vấn đề của thực tiễn liên quan đến composite, góp phần xây dựng ngành khoa học này ở Việt Nam.

    Trở về nước, được sự tín nhiệm của GS.VS Vũ Tuyên Hoàng, khi đó nguyên là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Đình Đức đã là một trong những người đứng ra vận động, sáng lập và là một trong những Phó Chủ tịch đầu tiên của Hội trí thức KHCN trẻ Việt Nam (2004-2010). Bên cạnh đó, ông cũng từng là Trưởng ban Tổ chức các Hội nghị khoa học quốc gia, quốc tế lớn như Hội nghị Toàn quốc về Cơ điện tử lần thứ VI (2012), Hội nghị quốc tế về Cơ học kỹ thuật và Tự động hóa ICEMA 1(2010), ICEMA2(2012), ICEMA3(2014). Đồng thời, ông cũng tham gia phản biện cho hơn 50 tạp chí quốc tế ISI, trong đó có nhiều tạp chí hàng đầu trong lĩnh vực Cơ học và vật liệu mới.

    Kể từ những ngày đầu bước chân vào nghiên cứu khoa học cho đến nay, ông đã chọn cho mình hướng đi bền bỉ và gắn trọn vẹn với nghiên cứu về vật liệu composite. Loại vật liệu mới có độ bền cơ học cao, vừa nhẹ và bền với các môi trường kiềm, a xít, nhiệt độ cao… mà vật liệu tự nhiên không có được.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức luôn nhiệt huyết truyền lại kiến thức cho học trò

    Không thể nói là chỉ có thuận lợi, mà khó khăn cũng rất nhiều. Trong quá trình đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đã thể hiện được cả tài năng và cái tâm nghề của mình. Với sự nghiêm túc và sáng tạo trong nghiên cứu, ông đã hội nhập với trình độ và các hướng nghiên cứu hiện đại của thế giới, tiếp cận những xu thế của cuộc cách mạng 4.0 trong lĩnh vực vật liệu mới, thu được những kết quả nghiên cứu khoa học có giá trị và nhiều kết quả trong số đó đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín. Đến nay, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đã công bố trên 200 công trình khoa học ở trong và ngoài nước, trong đó hai phần ba là các bài báo, báo cáo khoa học xuất bản, công bố ở nước ngoài với trên 100 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI. Ông cũng đã thành công trong việc áp dụng những tính toán nghiên cứu lý thuyết của mình để đề xuất sử dụng các hạt nano titan oxit như là thành phần gia cường làm tăng khả năng chống thấm, chống giòn, chống nứt cho vật composite polymer. Sáng kiến của ông đã được áp dụng để chế tạo đà máy tàu thủy bằng composite ở một doanh nghiệp đóng tàu của Việt Nam, đồng thời, những kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của ông về nano composite hạt titan oxit không chỉ được đăng trên các tạp chí quốc tế ISI, mà còn được Cục sở sữu trí tuệ cấp patent (Bằng Giải pháp hữu ích, 2016). Sản phẩm “Thiết bị dẫn đường quán tính phục vụ dẫn đường các phương tiện chuyển động có điều khiển” của đề tài nghiên cứu khoa học hợp tác giữa trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN và Viện Tên lửa - Viện KHCN QS - Bộ quốc phòng do ông làm Phó chủ nhiệm đề tài đã được giải 3 Nhân tài đất việt năm 2008.

    Với vai trò là một người thầy, ông không chỉ động viên tinh thần mà còn giúp đỡ nhiều em sinh viên giỏi có hoàn cảnh khó khăn theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu. Tấm lòng nhân ái, sự say mê khoa học, tin yêu cuộc sống, sự động viên, chia sẻ của ông luôn là sự động viên khích lệ các thế hệ học sinh vững vàng ý chí và nghị lực để tiếp bước trên con đường khoa học.

    Ông vẫn luôn tâm huyết miệt mài với từng trang giáo án, những bài giảng của ông luôn mang tính sáng tạo đổi mới giúp học trò tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất. Nhiều học trò của ông giờ đây đã trưởng thành và thành tài, có những người đã là thủ trưởng các đơn vị lớn như TS. Đinh Khắc Minh, là Viện trưởng Viện KHCN tàu thủy (Bộ Giao thông vận tải); TS. Hoàng Văn Tùng, là Chủ nhiệm Bộ môn Cơ lý thuyết của ĐH Kiến trúc Hà Nội. Nhiều học trò được ông hướng dẫn NCKH ngay từ những năm tháng sinh viên đã có nhiều bài báo khoa học có giá trị được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế ISI có uy tín và đạt giải nhất về nghiên cứu khoa học của trường Đại học Công nghệ cũng như của ĐHQGHN (như các em Trần Quốc Quân, Phạm Hồng Công, Vũ Văn Dũng, Phạm Toàn Thắng,…) và hầu hết các em đều là thủ khoa và được chuyển tiếp làm NCS ngay sau khi tốt nghiệp đại học.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đã xuất bản 4 đầu sách chuyên khảo và giáo trình về lĩnh vực chuyên ngành giảng dạy, nghiên cứu. Đặc biệt, ông đã có sách chuyên khảo về composite 3 pha có cấu trúc không gian được xuất bản bằng tiếng Nga (năm 2000) và cuốn sách chuyên khảo bằng tiếng Anh về ổn định tĩnh và động lực học của các kết cấu tấm và vỏ vật liệu composite chức năng FGM (năm 2014), được cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá cao. Công thức phi tuyến xác định các mô đun đàn hồi cho composite hạt nano của ông đã được cộng đồng khoa học biết đến gắn với tên “Vanin - Nguyen Dinh Duc” (GS. G.A Vanin là nhà khoa học lỗi lạc của Nga - Trưởng PTN Vật liệu composite của Viện hàn lâm Khoa học Nga).

    Với những cống hiến xuất sắc cho khoa học, GS Nguyễn Đình Đức đã được mời tham gia Hội đồng quốc tế của các tạp chí quốc tế, được mời là giáo sư nghiên cứu, thỉnh giảng tại các trường đại học danh tiếng của nước ngoài như Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva mang tên Lômônôxốp (MGU), Viện nghiên cứu chế tạo máy (Viện Hàn lâm Khoa học Nga), Viện khoa học công nghệ tiên tiến của Nhật Bản (JAIST), Đại học Birminhham (University of Birmingham), Vương Quốc Anh, Đại học Tổng hợp Sejong University của Hàn Quốc,… Tên tuổi của GS Nguyễn Đình Đức và Phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến do ông sáng lập đã được biết đến và có uy tín trong cộng đồng khoa học quốc tế.

    Cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức là tấm gương sáng của sự kiên trì lao động và cống hiến cho khoa học, cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Ông là người có nhiều cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp xây dựng và phát triển ĐHQGHN, đã kinh qua nhiều chức vụ quan trọng như Trưởng ban Khoa học Công nghệ của ĐHQGHN (2005-2008), Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (11.2008-9.2012) và từ 10.2012 đến nay là Trưởng ban Đào tạo ĐHQGHN. Đó là chặng đường dài cống hiến tâm sức và trí tuệ của ông cho đất nước.

    Trải qua gần 40 năm hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công tác quản lý, dù ở bất cứ cương vị công tác nào - vai trò nhà giáo, nhà khoa học hay nhà quản lý - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức  cũng luôn “cháy” hết mình vì sự nghiệp chung. Đối với ông, cuộc sống sẽ thật vô vị, thật không còn ý nghĩa gì nữa nếu không làm việc và cống hiến cho cộng đồng xã hội, cho đất nước. Vì vậy mà không khó khăn nào làm ông nản lòng, không thử thách nào làm ông nhụt chí. Những đóng góp của ông trong suốt thời gian qua thật đáng trân trọng. Nhiều thế hệ cán bộ, sinh viên, học viên được ông giảng dạy, dìu dắt  không thể quên một người thầy giản dị nhưng đầy trí tuệ với nghề, đầy nhiệt huyết với nghiệp; luôn đem hết tài và tâm của mình để cống hiến cho sự nghiệp chung. Kinh nghiệm quản lý, kết quả nghiên cứu khoa học và những đóng góp của ông không còn là của riêng ông, mà là giá trị chung của khoa học nước nhà, vì sự lan tỏa, tính thiết thực và ý nghĩa sâu sắc mà các công trình có được. Những đóng góp trong đào tạo và nghiên cứu khoa học của ông đã và đang góp phần tích cực vào sự phát triển chung của Đại học QGHN, của công tác đào tạo bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng cao, trình độ cao cho công cuộc đổi mới đất nước./.

    Khánh Linh

    Nguồn Báo Việt Nam hội nhập

    Đọc tiếp

    GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức trả lời phóng sự trên truyền hình Hà Nội: "Vấn đề hôm nay: Cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Bắt đầu từ chất lượng nguồn nhân lực"

    GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức trả lời phóng sự trên truyền hình Hà Nội: "Vấn đề hôm nay: Cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Bắt đầu từ chất lượng nguồn nhân lực"

    [Video] Vấn đề hôm nay: Cách mạng công nghiệp thứ 4 - Bắt đầu từ chất lượng nhân lực

    (HanoiTV) - Cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư đòi hỏi đội ngũ kỹ sư công nhân giảm về lượng nhưng tăng về chất. Do đó, đội ngũ cán bộ công nhân viên cần được đào tạo và có những chuyển biến tích cực thay đổi về chất.

    Đọc tiếp

    NGÀNH KỸ THUẬT HẠ TẦNG - HỢP TÁC SÂU SẮC NHẬT BẢN-VIỆT NAM

    Cuối tháng 6-2017, Đoàn công tác của chương trình Kỹ thuật hạ tầng – ĐH Việt Nhật do GS Nguyễn Đình Đức  (ĐHQGHN, Giám đốc chương trình), GS Hironori Kato (Đồng giám đốc chương trình) dẫn đầu và TS Phan Lê Bình (JICA) đã đưa các học viên khóa 1 – Kỹ thuật hạ tầng của Đại học Việt Nhật đến thực tế tại các công trình kỹ thuật lớn của Nhật Bản đang thi công tại Việt Nam.

    Công trình thứ nhất mà Đoàn đi thực tế là cầu Bình Khánh – là  cây cầu dây văng nằm trong dự án trọng điểm quốc gia Đường cao tốc Bến Lức – Long Thành thuộc tuyến Đường cao tốc Bắc – Nam - được biết đến là dự án đường bộ cao tốc lớn nhất miền Nam, tương lai khi đi vào hoạt động tuyến đường này sẽ giúp kết nối các địa bàn trọng điểm như TP. Hồ Chí Minh, Long An và Đồng Nai từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, tăng vốn đầu tư và mở rộng du lịch vùng. Cầu Bình Khánh có tổng chiều dài 2.764 m, rộng 21,75 m với bốn làn xe lưu thông. Nhịp chính cầu dài 375 m, hai trụ cầu cao 155 m, tĩnh không 55 m. Nhà thầu trúng thầu là Liên doanh Shimizu Corporation – Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Kỹ thuật Vinaconex (liên doanh Shimizu – Vinaconex E&C) với giá trúng thầu tương ứng hơn 4 tỷ JPY và hơn 3.000 tỷ VNĐ. Cầu Bình Khánh sẽ là một trong những cây cầu có khổ tĩnh không thông thuyền lớn nhất Việt Nam, được  xây dựng từ tháng 8 năm 2015 và dự kiến hoàn thành vào tháng 7 năm 2019.

    Công nghệ tiêu biểu của công trình cầu này là : đây là cầu dây văng bê tông dư ứng lực và móng vòng vây cọc ống thép SPSP ( Steel Pipe Sheet Pile).  Ưu điểm của cầu dây văng là   một trong những hệ kết cấu phù hợp với cầu có chiều dài nhịp lớn, tối ưu hóa khả năng làm việc của tháp, cáp văng và dầm. Cầu dây văng được áp dụng cho nhịp có chiều dài từ 200  đến 1100 mét;  có thể thi công bằng cách đúc hẫng ra từ tháp, biện pháp này không cần đà giáo từ mặt đất; cáp dây văng không chỉ nâng đỡ dầm trong quá trình khai thác mà cả trong giai đoạn thi công; đồng thời cầu dây văng còn có ưu điểm là tạo ra công trình và cảnh quan mang tính biểu tượng (như cầu Nhật Tân, Cầu Bính, Cầu Bãi Cháy,..). Còn hệ móng vòng vây cọc ống thép SPSP sử dụng giải pháp hệ móng cọc ống thép. Cọc ống thép và ống nối được đóng thành giếng, trụ cầu được thi công trong giếng. Cọc ống thép được sử dụng như là vòng vây ngăn nước trong quá trình thi công và cũng là hệ móng chịu lực trong quá trình khai thác.

     

    IMG_1366Thầy trò ngành kỹ thuật hạ tầng – của ĐH Việt Nhật tại công trường  cầu dây văng Bình Khánh

    Công trình thứ 2 mà Đoàn đi thực tế là Dự án Metro Bến Thành - Suối Tiên  (hay còn gọi là tuyến số 1) là một trong chuỗi dự án xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh có tổng vốn 2,49 tỷ USD (hơn 47.000 tỷ đồng) do Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản cho vay với hình thức ODA, được khởi công tháng 8/2012. Tuyến có tổng chiều dài là 19,7 km, bao gồm 2,6 km đi ngầm và 17,1 km đi trên cao và là tuyến Metro đầu tiên – 1 trong 7 tuyến Metro được quy hoạch xây dựng của TP Hồ Chí Minh trong tương lai. Dự án được cho là cải thiện tình hình giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh vốn được coi là nơi xảy ra nhiều vấn đề về tắc nghẽn giao thông nhất Việt Nam, ngoài ra, theo đánh giá  dự án còn giúp nâng cao chất lượng không khí, tiết kiệm năng lượng, nâng giá trị đất và các tác động kinh tế- xã hội khác do tiết kiệm thời gian vận chuyển. Theo dự kiến đến 2020 tuyến đường sắt đô thị Metro Bến Thành - Suối Tiên sẽ được đưa vào hoạt động. Nhà thầu chính của dự án là Shimizu – Maeda, trong đó CTCP FECON là nhà thầu Việt Nam đã được liên doanh nhà thầu Shimizu - Maeda chính thức lựa chọn để tham gia vận hành trực tiếp thiết bị khoan đào cho công tác đào hầm metro.  Công nghệ tiêu biểu nhất là đào hầm bằng thiết bị khoan đào – TBM (Tunnel Boring Machine). Thiết bị đào ngầm bằng robot TBM từ Nhật Bản có tổng chiều dài 70 mét, nặng 300 tấn, với bán kính khoan đường hầm 6,79 m (hiện nay ở Nhật Bản đang thi công đường vành đai 3 ở Tokyo ở chiều sâu 60 m dưới lòng đất và sử dụng robot TBM khoan đào với bán kính khủng, lớn nhất thế giới,  tới 16,5m).  Công nghệ khoan đào bằng máy TBM có nhiều ưu điểm và tiện lợi hơn hẳn so với hầm đào hở. Máy TBM sử dụng phương pháp cân bằng áp lực đất, và kích đẩy, từ đó có thể giảm nguy cơ sụt lún mặt đất cho khu vực thực hiện dự án đào hầm ngầm và cho phép đào đến đâu lắp vách tường bê tông bao quanh mặt trong hầm ngay đến đó. Việc khoan này được thực hiên dưới độ sâu 15 – 30m, cho nên trong quá trình xây dựng tuyến hầm sẽ không cần di dời, giải tỏa các công trình trên mặt đất, vì vậy không ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh hoạt của người dân. Công tác trộn bê tông được thực hiện ngay tại nhà xưởng sau đó mới đưa vào hệ thống chứa bê tông của máy TBM. Vì vậy, Ban quản lý dự án có thể kiểm tra được chất lượng của bê tông, kiểm soát có hiệu quả tiến độ thi công công trình. Trung bình 1 ngày, robot TBM có thể khoan 12m đường hầm. Sau mỗi lần khoan được 1,2m sẽ lắp đặt 6 tấm bê tông làm vách hầm xong mới khoan tiếp. Các tấm bê tông này được đúc sẵn, kết nối với nhau bằng các đoạn thép vít và lớp cao su vĩnh cửu để ngăn thấm nước – tất cả được sản xuất chế tạo từ Nhật Bản.

    IMG_1468

    Thầy và trò ngành kỹ thuật hạ tầng – của ĐH Việt Nhật tại hầm Metro, TP Hồ Chí Minh

      Công trình thứ 3 mà Đoàn khảo sát là hiện trường thi công của Dự án cải thiện môi trường nước Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2. Dự án cải thiện môi trường nước Tp Hồ Chí Mình được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương phê duyệt vào năm 2006, sau khi thiết kế dự toán và tuyển chọn nhà thầu, dự án được khởi động thi công lần lượt các gói thầu từ năm 2015 và dự kiến hoàn thành vào năm 2020. Mục tiêu chính của dự án là tiếp tục hoàn thiện hệ thống thoát nước mưa, góp phần giảm ngập cho lưu vực kênh Tàu Hũ – Bến Nghé – Đôi – Tẻ theo quy hoạch tổng thể thoát nước của TP.HCM, cùng với đó chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường nước, khắc phục tình trạng ô nhiễm nước trên tuyến kênh này thông qua việc xây dựng và phát triển hệ thống thu gom và xử lý nước thải. Tổng mức đầu tư của Dự án là 11.282 tỷ VND (trong đó, vốn ODA: 85,625 tỷ JPY tương đương 9.832 tỷ VNĐ chiếm 87% tổng mức đầu tư). Các hạng mục công trình của Dự án sẽ được triển khai, xây dựng trên địa bàn 7 quận/ huyện của TP.HCM, gồm Quận 4, 5, 6, 8, 10, 11 và huyện Bình Chánh với tổng diện tích lưu vực 2150 ha. Tại gói thầu G: Xây dựng hệ thống cống bao gom xử lý nước thải với tổng cộng  33.768m cống bao thu gom nước thải, được thực hiện bởi liên doanh công ty Yasuda-Kolon -và là nhà thầu chính trong gói thầu này. Công nghệ tiêu biểu là khoan kích ống, điểm khác biệt so với công nghệ khoan hầm Metro là sau khi đẩy mũi khoan đi sâu vào lòng đất thì những đốt ống dài khoảng 2,5m được kích đẩy tiến lên theo để tạo thành đường ống liên tục . Ngoài công nghệ khoan, công nghệ trắc đạc tiên tiến được áp dụng vào đây để giúp điều chỉnh hướng mũi khoan được chính xác, có thể uốn lượn trong lòng đất trong quá trình khoan chứ không chỉ khoan theo đường thẳng. Phương pháp mới này sẽ thay thế phương pháp đào, lấp thông thường, đồng thời giảm thời gian thi công cũng như giảm những tác động tiêu cực đến bộ mặt đô thị. Hiện nay các dự án cung cấp xử lý đường ống cấp thoát hầu hết được thi công bằng phương pháp đào mở nên dù hình thức đơn giản, chi phí thấp nhưng khó quản lý. Trong khi đó việc thi công lại kéo dài, gây mất mỹ quan đô thị, để lại hậu quả là những con đường chắp vá. Hạn chế lớn nhất của phương pháp đào mở là chỉ phù hợp cho việc thi công ở độ sâu ngắn, nằm ngay gần mặt đất. Khoan kích ống ngầm là phương pháp thực hiện thiết lập cửa hầm đầu và cửa hầm cuối của đoạn đường cống ngầm cần lắp đặt. Dùng kích đẩy máy đào từ cửa hầm đầu hướng về cửa hầm cuối, sau đó đặt các đoạn ống (bê tông) đã được làm sẵn nối tiếp sau máy đào và kích đẩy dần các đoạn ống này nối tiếp theo máy đào cho đến khi đầu mối chạm đến cửa hầm cuối tạo thành một đường cống ngầm dài xuyên suốt. Công nghệ kích đẩy bằng định vị điều khiển tự động nên không cần sử dụng con người. Nếu dùng nhân công sẽ nguy hiểm và tiến độ rất chậm. Các ưu điểm của công nghệ này có thể liệt kê: Về mặt kỹ thuật, có thể thi công ở những độ sâu khác nhau. Thông thường chiều sâu kinh tế để áp dụng phương pháp kích ống khi độ sâu chôn ống ≥ 6m. Ở những độ sâu thấp hơn, phương pháp kích ống được xem xét trong mối quan hệ với nhiều yếu tố khác như tài chính, môi trường; tiếp đó công nghệ này ngăn sự thâm nhập của nước ngầm bằng các gioăng kín nước; Rủi ro sụt lún thấp; Xáo động tối thiểu trên mặt đất; Giảm thiểu khối lượng công tác đào đắp, công tác tái lập; Ít ảnh hưởng đến các công trình hạ tầng kỹ thuật khác. Về mặt môi trường so với phương pháp đào hở truyền thống là sẽ giảm được khối lượng vật tư “đến” và “đi” cùng với việc giảm được công tác đổ đất và công tác san lấp tái lập lại mặt bằng. Trong nhiều trường hợp việc sử dụng kỹ thuật kích ống thay vì đào hở sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực đến an toàn tại nơi làm việc, đến đời sống người dân quanh khu vực thi công, đến môi trường tại địa phương.

    Có thể đánh giá Nhật Bản là quốc gia có công nghệ kỹ thuật hạ tầng hiện đại và tiên tiến nhất thế giới và những công nghệ hiện đại đó đang được triển khai tại Việt Nam. Nguồn vốn ODA của Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam dành tỷ lệ rất lớn cho cơ sở hạ tầng. Chỉ riêng trong khoảng thời gian từ 1992-2011, Nhật Bản đã dành 19,7 tỷ USD nguồn vốn ODA cho Việt Nam, kết quả đã mở thêm 3309 km đường, xây dựng được 287 cây cầu các loại  và tăng thêm sản lượng 4500 MW  điện, và nguồn ODA này vẫn đang tiếp tục được đầu tư ngày càng lớn và hiệu quả cho Việt Nam.

    Chính vì vậy, việc thành lập và đào tạo ngành kỹ thuật hạ tầng có mục tiêu trước hết là tận dụng thế mạnh về khoa học công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để tiếp quản và chuyển giao những công nghệ tiên tiến của Nhật bản cho Việt Nam, đồng thời cũng đào tạo nguồn nhất lực chất lượng cao có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động toàn cầu. Cần nhấn mạnh là khái niệm về kỹ thuật hạ tầng của Việt Nam và khái niệm về kỹ thuật hạ tầng của Nhật Bản và thế giới đang có sự khác biệt rất lớn. Ở Việt Nam, nói đến kỹ thuật hạ tầng, làm người ta hiểu đó là kỹ thuật các công trình hạ tầng cấp thoát nước giao thông, đô thị, các công trình thủy lợi. Theo nội hàm và nội dung đào tạo của Nhật Bản cũng như thế giới, thì kỹ thuật hạ tầng (Infrastructure Engineering) là khái niệm rất rộng, thực chất là  công nghệ kỹ thuật trong xây dựng, giao thông, thủy lợi.

    Chương trình đào tạo thạc sỹ kỹ thuật hạ tầng của Đại học Việt Nhật được xây dựng trên cơ sở hợp tác với đối tác chính là Đại học Tokyo (Đại học hàng đầu của Nhật Bản và là một trong những đại học lớn hàng đầu của thế giới), và khoảng 10 trường đại học khác của Nhật Bản tham gia. Chương trình bao gồm khối kiến thức chung, kiến thức cơ bản và cụ thể. Các môn học với kiến thức chung sẽ giúp học viên có kiến thức bao quát về khoa học bền vững, xã hội và môi trường. Trong khi đó, các khóa học cơ bản, cụ thể giúp họ tích lũy kiến thức và kỹ năng cốt lõi liên quan đến 7 lĩnh vực chủ yếu là (1) xây dựng dân dụng và công nghiệp, (2) công trình giao thông, thủy lợi (3) xây dựng cầu và đường, (4) quy hoạch (lãnh thổ, vùng và đô thị), (5) công nghệ vật liệu mới trong xây dựng và giao thông, kết cấu hạ tầng (6) duy tu, bảo trì công trình xây dựng, giao thông, thủy lợi và (7) quản lý các dự án.

    Từ những nền tảng kiến thức, sinh viên có thể thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực nêu trên với các giảng viên Việt Nam và Nhật Bản. Hơn 50% giảng viên của chương trình kỹ thuật hạ tầng đến từ trường Đại học Tokyo và các trường đại học uy tín khác ở Nhật Bản. Chương trình này cũng góp phần nâng cao kỹ năng thực hành cho học viên thông qua thực thành tại các phòng thí nghiệm hiện đại, qua các kỳ thực tế tại các doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực này (và những chuyến đi thực tế như vừa rồi tại các công trình của Nhật Bản đang thi công ở Việt Nam là một ví dụ - toàn bộ chi phí do JICA và Đại học Việt Nhật tài trợ), cũng như ba tháng thực tập tại các phòng thí nghiệm và các doanh nghiệp tại Nhật Bản (chi phí cho chuyến đi của học viên được tài trợ 100% bới chính phủ Nhật Bản).

    Bên cạnh đó, trường Đại học Việt Nhật xác định là trường đại học nghiên cứu tiên tiến. Trong 1 năm đi vào hoạt động, chỉ riêng các giảng viên của ngành kỹ thuật hạ tầng đã công bố khoảng 20 bài báo quốc tế ISI có tên của Đại học Việt Nhật. Trong số các học viên của chương trình, cũng đã có em có kết  quả nghiên cứu tốt, được báo cáo tại hội nghị khoa học quốc tế.  Các PTN về kỹ thuật hạ tầng, Công nghệ nano và Kỹ thuật môi trường được Nhà nước đầu tư cũng chuẩn bị đi vào hoạt động vào cuối năm 2017. Bên cạnh đó, trường còn có chính sách học bổng rất tốt: 100% học viên khóa 1 được cấp học bổng của JICA hoặc của các doanh nghiệp Nhật Bản. Các em tốt nghiệp chương trình thành thạo cả tiếng Anh và tiếng Nhật.

    Có thể đánh giá đây là ngôi trường đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam, được Chính phủ và nhân dân 2 nước gửi gắm niềm tin và hy vọng. Với sự quan tâm của Chính phủ 2 nước, sự nhiệt tình và tâm huyết của các giảng viên Nhật Bản và Việt Nam, chất lượng của đội ngũ học viên và các điều kiện tốt đảm bảo cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu, chắc chắn Trường Đại học Việt Nhật, trong đó có ngành Kỹ thuật hạ tầng, ngày càng phát triển nhanh và mạnh, xứng đáng là địa chỉ tin cậy đào tạo chất lượng cao, trình độ cao, chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam, là biểu tượng sâu sắc của tình hữu nghị và hợp tác chiến lược của hai nước Việt Nam và Nhật Bản.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Giám đốc Chương trình Kỹ thuật hạ tầng, Đại học Việt Nhật, 02.7.2017

    Đọc tiếp