Hoạt động chính

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Người thầy với những cống hiến và đóng góp trong việc thành lập và phát triển các ngành mới, khoa mới

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức là một trong những nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu và kết cấu tiên tiến. Ông cũng là người Thầy tâm huyết và dìu dắt nhiều thế hệ học trò thành tài. Nhưng một trong những đóng góp không nhỏ của ông đó là, thành lập và phát triển những ngành khoa học mới.

    (Bài viết nhân dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam, 20/11/2018)

    Thành lập những ngành, khoa mới

    Đại học không chỉ là nơi giảng dạy và truyền thụ kiến thức, mà còn là cái nôi sáng tạo tri thức mới. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo cần phải thông qua nghiên cứu khoa học. Ý thức được tầm quan trọng của việc gắn đào tạo với nghiên cứu, , GS Nguyễn Đình Đức đã bắt tay vào việc gây dựng và thành lập Nhóm nghiên cứu (NNC) ngay từ năm 2009, khi đang đảm nhiệm chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN). Mặc dù, mô hình đào tạo gắn với nghiên cứu cũng như vai trò của NNC trong trường đại học đã được nhắc đến từ lâu, nhưng trên thực tế vào thời gian này ở Việt Nam vẫn còn rất ít nhóm hoạt động hiệu quả. Đây chính là động lực cho GS. Nguyễn Đình Đức thành lập nhóm và thử nghiệm thành công.
    Ban đầu, nhóm chỉ có Thầy và một vài học trò. Nhưng là người thầy tận tụy và tâm huyết với nghề, ông đã truyền cảm hứng cho học trò qua những bài giảng, “thắp lên” ngọn lửa đam mê khoa học, tình yêu ngành nghề, khơi dậy tiềm năng sáng tạo ở thế hệ trẻ. Một thời gian sau học trò đến với ông ngày một đông hơn. Thầy trò miệt mài cùng nhau, nghiên cứu và những bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín cũng ngày một nhiều. Năm 2015, trên nền tảng kết quả nghiên cứu thành công của nhóm, đồng thời nhận thấy sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ hiện đại không thể thiếu sự tham gia của các vật liệu và kết cấu tiến tiến, GS Đức đã thành lập Phòng thí nghiệm và mở đào tạo chuyên ngành Vật liệu và Kết cấu tiên tiến tại Khoa cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa (Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN). Đồng thời, để tạo điều kiện cho sinh viên có năng lực và đam mê nghiên cứu có điều kiện tiếp tục học cao hơn ở bậc sau đại học, ông đã chủ trì xây dựng đề án mở ngành đào tạo tiến sỹ Cơ học Kỹ thuật ở Trường Đại học Công nghệ vào năm 2013 và ngay sau đó ông đã có lứa sinh viên giỏi đầu tiên được chuyển tiếp làm NCS khi tuổi đời rất trẻ.

    Không chỉ thành lập Phòng thí nghiệm, mở ngành mới với triết lý “học đi đôi với hành”, sinh viên, NCS không chỉ tiếp thu tốt kiến thức trên lớp mà còn phải giỏi trong nghiên cứu khoa học, GS Nguyễn Đình Đức còn có hoài bão xây dựng ĐHQGHN không chỉ đi đầu về khoa học cơ bản, mà còn phải vững mạnh về kỹ thuật và công nghệ. Đội ngũ trí thức gồm Thầy và trò phải tham gia giải quyết được những yêu cầu cấp bách của thực tiễn đề ra. Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay đang đô thị hóa, đẩy mạnh xây dựng hệ thống kỹ thuật hạ tầng, xây dựng- giao thông, với sự phát triển thần tốc của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đã mở ra một cơ hội to lớn đối với việc đào tạo các ngành nghề mới này. Nắm bắt được cơ hội đó, Giáo sư Đức đã xây dựng chương trình đào tạo Ngành kỹ sư Công nghệ kỹ thuật – xây dựng giao thông và bắt đầu tuyển sinh từ 2017. Đến năm 2018, lãnh đạo ĐHQGHN và trường ĐH Công nghệ đã ủng hộ GS Đức thành lập Bộ môn Công nghệ kỹ thuật xây dựng giao thông trực thuộc trường (tương đương cấp Khoa). Theo tính toán khảo sát sơ bộ, trong vòng 5 năm tới Việt Nam cần khoảng 5 triệu kỹ sư, lao động trong lĩnh vực này. Việc đào tạo các em sinh viên, NCS ngành này sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.

    Bên cạnh đó, với uy tín của nhà khoa học và quan hệ hợp tác với các cơ quan, trường đại học của Nhật Bản – quốc gia đầu tư ODA lớn nhất ở Việt Nam trong lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng, GS Nguyễn Đình Đức đã đề xuất, xây dựng chương trình đào tạo thạc sỹ Kỹ thuật hạ tầng ở Đại học Việt Nhật với các hướng chuyên sâu cơ bản như: tính toán kết cấu và thiết kế; công nghệ -kỹ thuật tiên tiến trong xây dựng, thi công; nền móng công trình, vật liệu mới; quy hoạch; quản lý dự án và trở thành Giám đốc chương trình đầu tiên của ngành này. Đối tác chính của chương trình là Đại học Tokyo và 10 trường đại học lớn khác của Nhật Bản. Chương trình Kỹ thuật hạ tầng có sự tham gia giảng dạy trực tiếp của trên 50% là các giáo sư người Nhật. Năm 2015, chương trình đào tạo thạc sỹ kỹ thuật hạ tầng ở ĐH Việt Nhật đã được phê duyệt và bắt đầu tuyển sinh từ năm 2016.

    Xây dựng và phát triển

    Vượt qua muôn vàn khó khăn về tài liệu, cơ sở vật chất, chỗ làm việc, duy trì tổ chức hoạt động của nhóm, sau 8 năm xây dựng và phát triển, NNC của GS Đức đã lớn mạnh, không chỉ có đông đảo đội ngũ sinh viên, nghiên cứu sinh (NCS) mà còn có nhiều tiến sỹ trẻ tham gia với số lượng hơn 40 thành viên. Thành phần được mở rộng, không chỉ có các đơn vị của ĐHQGHN như ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Công nghệ, ĐH Việt Nhật mà còn có sự tham gia của nhiều NCS và tiến sỹ trẻ đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu khác trên địa bàn cả nước và cả ở nước ngoài. Uy tín của nhóm nghiên cứu đã vang xa và có sức thu hút trong cộng đồng khoa học quốc tế.

    Quan trọng hơn, nhóm đã “gặt hái” được nhiều thành tựu quan trọng trong nghiên cứu và đào tạo, đồng thời góp phần phục vụ thực tiễn. Cụ thể, nhóm đã công bố trên 250 bài báo, báo cáo khoa học, trong đó có 120 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế ISI (SCI, SCIE) có uy tín, được cấp 1 bằng sáng chế trong sản xuất chế tạo vật liệu nanocomposite ứng dụng chống thấm, xuất bản giáo trình và sách chuyên khảo (bằng tiếng Anh) phục vụ đào tạo đại học, sau đại học. Trong thời gian qua đã có 5 NCS bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sỹ và hiện đang đào tạo 10 NCS, 2 trong số 4 giải thưởng Nguyễn Văn Đạo của ngành Cơ học thì đó là học trò của GS Đức (TS Hoàng Văn Tùng và TS Trần Quốc Quân).

    Ngoài ra, bằng uy tín khoa học của mình, GS. Nguyễn Đình Đức cũng đã thu hút được đội ngũ cán bộ, giáo viên rất giỏi và giàu kinh nghiệm tham gia giảng dạy, hướng dẫn cho học sinh, NCS của những ngành, khoa mới thành lập. Đó là các giáo sư, giảng viên ưu tú đến từ các cơ quan: Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, Học Viện Kỹ thuật Quân sự, ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Giao thông, ĐH Xây dựng, ĐH Kiến trúc, ĐH Thủy lợi,…Đồng thời, Viện Cơ học, Viện KHCN Xây dựng, Viện KHCN giao thông. Các doanh nghiệp có uy tín trong lĩnh này như FECON, CONINCO,… cũng giúp đỡ, ủng hộ mạnh mẽ.

    Bên cạnh các hướng nghiên cứu cơ bản, các đề tài khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, đề tài của NCS trong các ngành mới này đã tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong thực tiễn như: nghiên cứu ổn định an toàn kết cấu dưới các loại tải trọng đặc biệt; vật liệu composite tiên tiến ứng dụng trong đóng tàu; gia cường sửa chữa cầu và các kết cấu công trình xây dựng bằng vật liệu composite; nghiên cứu kỹ thuật khoan cọc nhồi gia công nền móng trong thực tiễn ở Việt Nam; nghiên cứu về công trình xanh và tính toán hiện đại trong thiết kế công trình; sử dụng vật liệu nano làm tăng hiệu qủa sử dụng năng lượng mặt trời; đánh giá trữ lượng và tiềm năng của năng lượng điện gió tại khu vực hải đảo ngoài khơi Việt Nam; đánh giá hiệu quả của BRT; tối ưu hóa các điểm đỗ xe công cộng; v.v…Các sinh viên không chỉ tham gia nghiên cứu, mà còn được gửi đi thực tập thực tế tại các doanh nghiệp. Đặc biệt, các em học thạc sỹ ở ĐH Việt Nhật, với sự tài trợ của JICA được đi thực tập 3 tháng tại Nhật Bản. Nhờ có kiến thức thực tế cũng như chuyên môn vững vàng, sau khi tốt nghiệp đại học, các em đều học chuyển tiếp thạc sỹ, làm NCS, hoặc tìm được việc làm ngay ở các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Với chất lượng đào tạo tốt, một số em tốt nghiệp đại học ở ĐH Công nghệ và thạc sỹ ở ĐH Việt Nhật đã được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp của Nhật Bản và Hàn Quốc.

    Hội nhập và sánh vai

    Nhóm nghiên cứu của GS. Nguyễn Đình Đức luôn chú trọng nghiên cứu những lĩnh vực mới trong khoa học như: vật liệu chức năng FGM, Vật liệu nano polymer composite, vật liệu đặc biệt chịu tải trọng nổ,… Đây là những hướng nghiên cứu mới của thế giới. Cụ thể, GS Nguyễn Đình Đức đã bắt tay vào nghiên cứu vật liệu FGM năm 2005 và năm 2008 đã cùng NCS có công bố đầu tiên về ổn định tĩnh và động lực học của kết cấu tấm FGM. Kể từ đó đến nay, đã có nhiều bài báo và luận án thạc sỹ, tiến sỹ đề cập đến về vấn đề này. Vật liệu polymer, một vật liệu có nhiều lỗ rỗng và cơ bản là không dẫn điện. Nhưng ông đã nghiên cứu, bổ sung một cách hợp lý các hạt nano để làm giảm các lỗ rỗng, dưới tác động tích cực của một hiệu điện thế, vật liệu polymer, đặc biệt polymer hữu cơ có thể phát quang. Hiệu ứng này đã mở ra muôn vàn ứng dụng trong thực tế,…Kết quả nghiên cứu khoa học của ông và NNC đã được cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá cao, được mời báo cáo tại nhiều hội nghị quốc tế tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn độ…

    Thông qua buổi Seminar của các nhà khoa học hàng đầu về các kết cấu đặc biệt chịu tải trọng nổ của ĐH Melbourne (Úc) trong một chuyến công tác tại Việt Nam, sáu tháng sau, GS Đức và các cộng sự trong NNC đã có những bài công bố trên các tạp chí quốc tế về vấn đề này và sau đó đã tiến tới ký kết hợp tác giữa NNC của ông và NNC của ĐH Melbourne.

    GS Đức và NNC cũng đã hợp tác hiệu quả với các nhà khoa học hàng đầu của ĐH Birmigham trong lĩnh vực Machine learning (học máy – trên nền tảng trí tuệ nhân tạo) thông qua đề tài hợp tác của Quỹ Newton do Hội Khoa học Công nghệ Hoàng Gia Anh tài trợ năm 2017. Thuật toán tối ưu của bầy ong đã được các giáo sư của ĐH Birmingham đề xuất từ những năm 80 và đã có hàng trăm luận án tiến sỹ, hàng nghìn bài báo đã công bố của các nhà khoa học từ nhiều quốc gia nghiên cứu và phát triển mở rộng lý thuyết này ứng dụng trong thực tế và Machine learning. GS Nguyễn Đình Đức và các học trò của ông trong NNC đã tiếp thu, lĩnh hội và áp dụng cho các tối ưu hóa kết cấu FGM, và lần đầu tiên đã đăng cai tổ chức hội nghị quốc tế về tối ứu hóa của bầy ong tại ĐHQGHN vào tháng 3 năm 2018, thu hút được những nhà khoa học từ các trường đại học hàng đầu của Vương Quốc Anh và Trung Quốc tham gia.

    GS Nguyễn Đình Đức cho biết, trọng tâm nghiên cứu chuyên sâu và thế mạnh của PTN là các lĩnh vực: composite, vật liệu chức năng và vật liệu nano, vật liệu thông minh. Bên cạnh đó, NNC và PTN của ông cũng là cơ sở nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực vật liệu nano composite ứng dụng trong công nghiệp đóng tàu, trong lĩnh vực năng lượng mới; các loại vật liệu và kết cấu auxetic có khả năng giúp giảm chấn, hấp thu sóng nổ cũng như có thể giúp lưu trữ lượng thông tin khổng lồ, đáp ứng yêu cầu của trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0; các vật liệu tiên tiến có tính năng đặc biệt sử dụng trong các điều kiện khắc nghiệt ở Việt Nam,…Từ đó đã hình thành nên trường phái khoa học về vật liệu và kết cấu tiên tiến gắn với thông minh, với cách mạng công nghiệp 4.0, với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở ĐHQGHN do GS. Nguyễn Đình Đức đứng đầu.
    GS Nguyễn Đình Đức còn là Trưởng ban tổ chức và giữ vai trò nòng cột của nhiều hội nghị quốc tế có uy tín như: Hội nghị quốc tế về Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa ICEMA 2010, ICEMA 2012, ICEMA 2014, ICEMA 2016; Workshop quốc tế thường niên Vietnam – Canada – Japan về composite; Hội nghị quốc tế về tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS TM 2018 (tháng 9 năm 2018) với sự tham gia của hơn 400 nhà khoa học, với hơn 200 báo cáo và 39 báo cáo mời của hàng trăm nhà khoa học hàng đầu từ 14 quốc gia tham dự.

    GS Nguyễn Đình Đức cũng là trong số ít các nhà khoa học Việt Nam tham gia hội đồng biên tập của các tạp chí quốc tế có uy tín. Ông là thành viên hội đồng biên tập quốc tế của 4 tạp chí ISI là Cogent Engineering (Nhà xuất bản Taylor & Francis – Vương Quốc Anh), Journal of Science: Advanced Materials and Devices (Nhà xuất bản Elsevier, Hà Lan), Journal of Science and Engineering of Composite Materials (Nhà Xuất bản De Gruyter, Đức), Journal of Mechanical Engineering Science (Proc. IMechE Part C, Nhà xuất Bản SAGE, Viện KHCN Hoàng gia Anh) và được mời làm chuyên gia nhận xét, phản biện cho hơn 60 tạp chí ISI có uy tín của quốc tế. NNC, PTN và Khoa mới thành lập của GS Nguyễn Đình Đức đã và đang có quan hệ hợp tác bình đẳng, ngang tầm với các nhà PTN và các nhà khoa học có uy tín trong các trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Úc, Canada,….như Đại học Công nghệ Tokyo và Đại học Tổng hợp Tokyo (Nhật Bản), Đại học Tổng hợp Melbourne (Úc), Đại học Birmingham (UK), ĐH Yonsei (Hàn Quốc), Đại học Tổng hợp Matxcova MGU (Liên bang Nga),…Ông cũng là thành viên của Hội đồng quốc tế về tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS, thành viên Ủy ban quốc tế về vật liệu chức năng thông minh có cơ lý tính biến đổi FGM.

    Các học trò được ông đào tạo và dìu dắt đã tỏa đi bốn phương trời, làm việc trong các môi trường trong nước và quốc tế, được cơ quan, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đánh giá cao về trình độ và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ. Thậm chí có những em đào tạo trong nước ở NNC của GS Nguyễn Đình Đức còn xuất sắc hơn nhiều sinh viên, học viên cao học và NCS được đào tạo 100% ở nước ngoài.

    Như vậy, với vai trò là người kiến tạo, cập nhật những hướng nghiên cứu mới nhất của thế giới trong NNC, vai trò nòng cột tổ chức nhiều hội nghị quốc tế có uy tín thành công, là thành viên của những Hội đồng biên tập tạp chí quốc tế có uy tín, đào tạo được những sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh sau khi ra trường đáp ứng được những tiêu chí khắt khe của các cơ quan và doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế…, đã chứng tỏ Thầy, trò của GS. Nguyễn Đình Đức và NNC đã và đang dần hội nhập và sánh vai với nền khoa học các nước trên thế giới. Kết quả đó cũng khẳng định vị thế ngành giáo dục đại học Việt Nam, của Đại học Quốc gia Hà Nội và vai trò của những người thầy cô giáo.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nêu trên, tâm sự với chúng tôi, GS Nguyễn Đình Đức cũng trăn trở và ước ao giá như được đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất và kinh phí cho nghiên cứu, có cơ chế đột phá để thu hút nhân tài, sẽ giữ chân được nhiều hơn các em học sinh giỏi, tài năng ở lại trường tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu, thay vì hiện nay các em phải bươn chải kiếm sống ở bên ngoài.
    Trên cơ sở đó cũng sẽ thu hút được nhiều tiến sỹ trẻ tài năng ở nước ngoài về làm việc, và đội ngũ cán bộ của nhà trường sẽ ngày càng hùng hậu, sẽ có thêm nhiều công bố quốc tế và phát minh sáng chế hơn nữa.

    Giáo sư Nguyễn Đình Đức cũng hy vọng những học trò do ông đào tạo sẽ trở thành những hạt nhân lan tỏa đam mê khoa học và sự cống hiến tới các bạn trẻ để góp phần xây dựng đất nước Việt Nam hội nhập và phát triển, vươn lên bứt phá ngoạn mục trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

    Vân Hương

    Đọc tiếp

    GS Nguyễn Đình Đức: Công nghiệp 4.0: Việt Nam muốn vươn lên thành “con rồng, con hổ” thì phải đào tạo nhân tài

    SÁNG 27/10, HỘI THẢO VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ NHỮNG CƠ HỘI THÁCH THỨC VỚI CÁC LĨNH VỰC KHCN ĐÃ ĐƯỢC TỔ CHỨC THÀNH CÔNG Ở ĐH VIỆT NHẬT, ĐHQGHN

    Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 sẽ đem đến những thay đổi mang tính đột phá trên mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh trong xã hội Việt Nam. Các đơn vị đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học, công nghệ với vai trò là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ cho các hoạt động sản xuất và nghiên cứu, và cũng là nơi thực hiện những nghiên cứu tiên phong cho đất nước, sẽ cần có nhận thức và nhanh chóng thực hiện những thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu của mình.

    Trong bối cảnh đó, sáng ngày thứ Bảy 27/10, trường Đại học Việt Nhật, Đại học quốc gia Hà Nội, phối hợp với trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Hội Cơ học Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với tựa đề “Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội và thách thức với các ngành Công nghệ - Kỹ thuật”.

    Hội thảo có sự tham gia của các nhà quản lý và các nhà khoa học, các chuyên gia đến từ ĐHQGHN, ĐH Bách Khoa, Học viện KTQS, ĐH Xây dựng, ĐH giao thông, ĐH Nguyễn Tất Thành, ĐH Việt Nhật, ĐH KH tự nhiên, ĐH Công nghệ, ĐH Thái nguyên, ĐH Thủy lợi, Viện KHCN Việt Nam, Viện KHCN Xây dựng, Viện KHCN Giao thông, Tổng Công ty CONINCO, VBPO,..….với nhiều giáo sư đầu ngành, các chuyên gia trong các lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ và quản lý giáo dục, các cơ quan báo chí. Tới dự Hội thảo còn có đại diện Vụ Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), lãnh đạo Trung tâm Kiểm định Chất lượng (ĐHQGHN), Vụ Đại học (Bộ giáo dục và Đào tạo), Cục KHCN Quân sự (Bộ Quốc phòng),…

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Tổ chức của Hội nghị cho biết: Hội nghị được tổ chức nhằm làm sâu sắc hơn những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cũng như những thách thức, cơ hội đối với các ngành Công nghệ - Kỹ thuật của Việt Nam, hướng đến cải tiến chương trình đào tạo hiện nay, đề xuất chương trình đào tạo mới cho các trường đại học, đồng thời thảo luận để đưa ra các định hướng nghiên cứu, tập hợp lực lượng và xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mới trong các trường đại học, các viện nghiên cứu vế công nghệ - kỹ thuật, phù hợp với xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

    Các diễn giả đã trình bày các tham luận không chỉ từ quan điểm của đơn vị đào tạo và nghiên cứu, mà còn xuất phát từ nghiệp vụ thực tế trong sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, với mong muốn sao cho việc đào tạo và nghiên cứu sẽ đáp ứng được tốt nhất cho nhu cầu thực tiễn của xã hội, tạo bước chuẩn bị đầy đủ để cuộc cách mạng công nghệ 4.0 sẽ đem lại những lợi ích và lợi thế cạnh tranh cho ngành công nghệ, kỹ thuật của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Lịch sử cho thấy Mỹ, Anh,... và các nước công nghiệp phát triển đã tận dụng và nắm bắt được cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2. Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ,... đã nắm bắt được cơ hội ở cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3. Hội thảo cho rằng Việt Nam có  thể tận dụng được lợi thể và nắm bắt được cơ hội ở cuộc cách mạng công nghiệp  lần thứ 4  để vươn lên thành “con rồng, con hổ” của châu Á và thế giới trong thế kỷ 21.

    Tại hội thảo, các báo cáo cho thấy mô hình đại học trong cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đã thay đổi. Để có thể đáp ứng nhu cầu của thời đại, các chuyên gia đề xuất sự thay đổi trong triết lý đào tạo: Thời đại mới, các đại học nghiên cứu chuyển mình sang các đại học đổi mới sáng tạo, gắn kết và chuyển đổi mạnh mẽ các kết quả nghiên cứu với các công nghệ kỹ thuật mới và doanh nghiệp. Vì vậy, đầu ra, người học phải đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Và ngoài kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ và CNTT, các trường đại học phải cung cấp và trang bị cho người học theo hướng giáo dục khai phóng và STEM, và từ đó phải cơ cấu lại các chương trình đào tạo.

    Ngoài kiến thức nền tảng, kiến thức của ngành và chuyên ngành, ngoại ngữ, CNTT và kỹ năng mềm  như hiện nay, các chuyên gia cũng kiến nghị chương trình đào tạo phải đổi mới nhằm trang bị được cho người học tầm nhìn, kỹ năng thu thập, xử lý và kiểm soát thông tin, có tầm nhìn, có khát vọng đổi mới sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp ... Bên cạnh đó, các ý kiến thảo luận cũng cho rằng còn phải đẩy mạnh đào tạo STEM cho các khối ngành kỹ thuật-công nghệ và tư duy phát triển bền vững cho người học.

    Hội thảo cũng đề cập đến những công nghệ đào tạo mới, phương pháp dạy và học mới trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, và cho rằng đào tạo tài năng, chất  lượng cao theo xu hướng cá thể hóa đang là xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0.

    Ngày nay, những lĩnh vực kỹ thuật công nghệ thường có tính liên ngành, xuyên ngành và cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng xóa nhòa ranh giới giữa các ngành kỹ thuật công nghệ, và nhờ những ứng dụng của các công nghệ mới mở ra nhiều cơ hội việc làm, cơ hội kinh doanh và cơ hội phát triển cho mọi người, mọi cơ quan tổ chức, và những ai không nhanh chóng nắm bắt những cơ hội sẽ nhanh chóng bị tụt hậu.

    Các chuyên gia cũng nhận thấy trong lĩnh vực CNTT và truyền thông, chúng ta được thích ứng khá nhanh. Tuy nhiên, còn 2 trụ kiềng quan trọng nữa của cách mạng công nghiệp 4.0 là tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, chúng ta phải đầu tư để phát triển nhanh và mạnh hơn nữa.

    Hội thảo cũng đã trao đổi thông tin về những thay đổi và đáp ứng khá nhanh của một số trường đại học của Việt Nam, như ĐHQGHN hiện nay bên cạnh CNTT, Điện tử viễn thông, Cơ học Kỹ thuật, Cơ điện tử đã bắt tày vào tuyển sinh và đào tạo ngành/chuyên ngành mới như Robotic, Công nghệ hàng không vũ trụ, Công nghệ nano, Năng lượng mới, An ninh phi truyền thống, Khoa học dữ liệu, Phát triển bền vững, Biến đổi khí hậu,…

    Để đáp ứng với yêu cầu nguồn nhân lực, các đại biểu cũng cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam còn phải phát triển mạnh mẽ ngành Tự động hóa và điều khiển; ngoài sử dụng dữ liệu lớn, điện toán đám mây để truyền tải và lưu trữ thông tin, còn phải nghiên cứu và phát triển về tích hợp hệ thống (System Integration), Công nghệ tương tác thực tế (Augmented Reality), và đương nhiên vấn đề sống còn không thể đầu tư để đào tạo và nghiên cứu là an ninh, an toàn thông tin (Cyber Security) và các vật liệu tiên tiến, vật liệu thông minh để ứng dụng cho các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật mới

    Bên cạnh đào tạo và thích ứng, chuyển giao công nghệ, để tiếp cận với trình độ của thế giới và làm chủ các công nghệ lõi, các chuyên gia tại hội thảo cũng đề nghị Việt Nam cần có chiến lược để tập hợp lực lương trong và ngoài nước nhằm xây dựng bằng được các nhóm nghiên cứu mạnh, các viện nghiên cứu tiên tiến, các trung tâm xuất sắc trong các lĩnh vực CN-KT chủ chốt của cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là sứ mạng  quan trong của nhiều cơ quan, tổ chức, bộ ngành như Bộ KHCN, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông,….và các trường đại học, các viện nghiên cứu.

     

    VNU_CM CN 4.0 VJU11

    Tại hội thảo, các đại biểu từ ĐH Bách khoa, ĐH Công nghệ, Học viện KTQS, ĐH Nguyễn Tất Thành,…..cũng đã  thảo luận về việc phối hợp xây dựng và hình thành các nhóm nghiên cứu mới liên ngành, liên đơn vị trong lĩnh vực vật liệu thông minh, khoa học dữ liệu, CNTT, trí tuệ nhân tạo,….

    Hội thảo cũng thảo luận  và đề xuất giải pháp về hệ thống giao thông thông minh ở Việt Nam, cũng như một số xu hướng ngành xây dựng thời đại kỹ thuật số như công nghệ BIM 6D (tính toán thiết kế 3D đồng thời với các tham số như thời gian, chi phí và tối ưu nguồn năng lượng); thiết kế và xây dựng các công trình xanh, tòa nhà xanh,…

    Hội thảo cũng nhất trí cho rằng, để tất cả những chiến lược và đổi mới thành công, để Việt Nam theo kịp với cách mạng công nghiệp 4.0, bài học của các nước cho thấy mấu chốt là cần có nhân tài.  Chúng ta cần tập hợp, tạo mọi điều kiện phát huy nguồn lực trí thức trẻ đã tiếp cận được với tri thức khoa học tiên tiến trên khắp thế giới để nắm bắt những cơ hội của tương lai. Thu hút và sử dụng nhân tài vừa là cơ hội, vừa là thách thức của Việt Nam hiện nay.

    Sự thành công của Hội thảo này đánh dấu sự nhận thức và chuyển mình tích cực của các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam trong việc triển khai các giải pháp cụ thể trong tổ chức đào tạo và nghiên cứu, phát triển các lĩnh vưc mới để góp phần hiệu quả trong sự nghiệp đưa Việt Nam bứt phá đi lên trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

     

    Đọc tiếp

    GS Nguyễn Đình Đức: TỰ CHỦ ĐẠI HỌC - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN

    TỰ CHỦ ĐẠI HỌC, KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN:
    (Dân trí, ngày 25-10-2018)

    Tự chủ đại học là xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, để hiểu và vận dụng tự chủ đại học như thế nào để áp dụng khả thi cho các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, thì kinh nghiệm tự chủ đại học các trường đại học ở Nhật Bản có thể sẽ là bài học rất hữu ích.

    Để thấy được toàn bộ bức tranh của giáo dục đại học của Nhật Bản, theo số liệu năm 2015, toàn Nhật Bản có 799 trường đại học, trong đó các trường Quốc lập là 86 trường (tỷ lệ 11%), trường Công lập (do chính quyền địa phương thành lập) là 89 trường (chiếm 11,4%) và trường dân lập là 604 trường (chiếm 77,5%). Số sinh viên toàn Nhật bản năm 2015 là 2.860.210 sinh viên, thì các trường Quốc lập có 610.802 sinh viên (tỷ lệ 21,4%), các trường công lập 148.766 sinh viên (tỷ lệ 5,2%) và các trường dân lập có 2.100.642 sinh viên (chiếm tỷ lệ 73,4%). Như vậy có thế thấy với một đất nước tiên tiến và văn minh, có nền KHCN hiện đại như Nhật Bản, hệ thống các trường đại học dân lập chiếm số đông.

    Năm 2004, toàn bộ 86 trường Quốc lập của Nhật Bản chuyển sang mô hình tự chủ, từ mô hình National University chuyển sang mô hình National University Corporation.

    Vậy tại sao các trường đại học quốc lập ở Nhật Bản phải tự chủ?

    Trước hết là vì phải chuyển mình để thích ứng với việc đảm bảo chất lượng đào tạo trong khi gia tăng số lượng sinh viên vào đại học và giảm tỷ lệ dân số ở độ tuổi 18. Hai là để thích ứng với tình trạng cạnh tranh trên thế giới về KHCN tiên tiến, yêu cầu đại học triển khai các nghiên cứu, làm cơ sở cho công nghiệp, và ba là duy trì cơ chế cũ đã tỏ ra không hiệu quả, do cơ chế cũ không thích ứng được với các biến đổi xã hội, không tập hợp và đưa ra được các quyết định chung trong nội bộ trường, cần xây dựng cơ chế quản lý mới cho sự phát triển và cạnh tranh của nhà trường.
    Có thể thấy bối cảnh thôi thúc tự chủ của các trường đại học quốc lập Nhật Bản khi đó, có nhiều điểm giống bối cảnh của hệ thống các trường đại học của Việt Nam hiện nay.

    Vậy tự chủ đại học quốc lập ở Nhật Bản nhằm mục đích gì?
    Tự chủ đại học ở Nhật Bẳn nhằm tăng cường quyền tự chủ của các đại học quốc lập; với mong muốn chấm dứt tình trạng các trường đại học nhà nước có phần bảo thủ và độc lập kiểu như mini Todai; phát huy cá tính, tăng cường năng lực cạnh tranh của các đại học; tăng cường khả năng lãnh đạo của giám đốc các đại học, hiệu trưởng các trường. Đồng thời cũng giảm bớt hỗ trợ ngân sách nhà nước cho chi thường xuyên của các đại học nhà nước.

    Tự chủ đại học ở Nhật Bản, Đại học, trường đại học được làm những gì?
    • Trường được tự chủ sử dụng kinh phí chi hoạt động thường xuyên
    • Đượ tự quyết định mức học phí
    • Được tự quyết định biên chế (số giảng viên và cán bộ hành chính)
    • Thành lập Khoa mới và mở chương trình đào tạo mới
    • Thành lập hoặc xóa bỏ Trường và Viện thành viên (với mô hình đại học 2 cấp như Đại học Tokyo)

    Các trường không được làm gì khi tự chủ: Chỉ tiêu tuyển sinh và quy mô đào tạo các trường không được tự quyết định. Đây có lẽ là điểm khác biệt lớn nhất so với cách hiểu về tự chủ đại học ở Việt Nam hiện nay.
    Trước tự chủ, các trường đại học xin cấp ngân sách cho biên chế giảng viên và cán bộ hành chính; xin chỉ tiêu tuyển sinh

    Sau tự chủ, Bộ Giáo dục Nhật Bản tiếp tục quản lý chặt số sinh viên, học viên thạc sỹ, nghiên cứu sinh. Trong trường hợp thành lập khoa mà cần tăng tổng số sinh viên của trường thì nhất thiết phải xin Bộ Giáo dục như trước khi tự chủ hóa. Nếu trường hợp thành lập khoa mà không cần xin thêm chỉ tiêu tuyển tăng sinh viên của trường thì có thể tự quyết định việc thành lập khoa mới. Với mô hình đại học 2 cấp như ĐH Tokyo, việc thành lập các khoa mới của các trường thành viên do ĐH Tokyo phê duyệt.

    Như vậy mặc dù tự chủ, nhưng quy mô sinh viên là tham số được Nhà nước quản lý chặt chẽ và điều tiết.

    Điểm đặc biệt cần nhấn mạnh là trong quá trình tự chủ đại học ở Nhật Bản, Nhà nước vẫn cấp kinh phí chi thường xuyên cho các trường, nhưng hàng năm, ngân sách hỗ trợ hoạt động thường xuyên bị cắt giảm 1%, và tinh giản biên chế khoảng 1% mỗi năm.

    Kết quả tự chủ đại học ở Nhât Bản như thế nào?
    Trước tự chủ: Nhà nước bao cấp và quản lý chặt về tài chính: Phân bố ngân sách theo định mức số giáo viên và số sinh viên. Đại học hầu như không có quyền tự chủ về số biên chế giảng viên, chuyên viên, số sinh viên, chương trình đào tạo, cách sử dụng ngân sách.

    Nguồn tài chính của một đại học quốc lập điển hình trước tự chủ
    - Ngân sách nhà nước 50%
    - Hỗ trợ của nhà nước trong xây dựng CSVC 20%
    - Thu nhập từ bệnh viện 15%
    - Học phí 10%
    - Kinh phí nghiên cứu quỹ ngoài 5

    Sau tự chủ, có sự chuyển biến về cơ cấu thu nhập của nhà trường, mức trung bình của
    một đại học quốc lập là:
    - Ngân sách hỗ trợ hoạt động thường 33%
    - Hỗ trợ của Nhà nước trong xây dựng CSVC 7%
    - Thu nhập từ bệnh viện 32%
    - Học phí 11%
    - Kinh phí nghiên cứu quỹ ngoài 12%
    - Quyên góp 3%
    - Nguồn thu khác 2%

    Với ĐH Tokyo, kinh phí từ Nhà nước cấp năm 2016 là 74.077 triệu yên, bị giảm 14% so với năm 2004 - là 86.180 triệu yên, nhưng tổng thu của trường lại tăng 26% so với khi chưa tự chủ, đạt 244.049 triệu yên năm 2016 (khoảng 2,4 tỷ USD) so với 177.119 triệu yên vào năm 2004. Đặc biệt lưu ý là kinh phí nghiên cứu của ĐH Tokyo đã đạt 49.789 triệu yên vào năm 2016, tăng 211% so với năm 2004 - 23.596 triệu yên, và nguồn thu từ NCKH đã đạt 22,2% tổng thu của toàn trường vào năm 2016. Nguồn thu từ NCKH làm tăng đáng kể nguồn thu của nhà trường sau tự chủ. Và cũng cần nhấn mạnh là ngay cả khi tự chủ, thì kinh phí Nhà nước cấp cho ĐH Tokyo vẫn chiếm tới 47,5% vào năm 2016. Trong khi mức thu từ học phí của ĐH Tokyo hầu như giữ nguyên, 16.190 triệu yên vào năm 2004 và 16.357 triệu yên vào năm 2016 (chiếm khoảng 7,3% tổng thu của nhà trường). Sở dĩ mức thu học phí ít biến động là vì khi tự chủ hóa, các đại học tiếng là được tự quyết được mức học phí, Chính phủ chỉ đưa ra mức chuẩn. Nhưng Bộ Giáo dục Nhật Bản lại có chủ trương là khi một đại học tăng học phí thì Bộ sẽ giảm hỗ trợ cho kinh phí chi hoạt động thường xuyên. Nên mãi đến bây giờ về cơ bản các đại học quốc lập đều giữ mức học phí theo mức chuẩn của Bộ và không có đại học nào tăng học phí.

    Với các đại dọc dân lập, tỷ lệ học phí lại chiếm đáng kể trong nguồn thu của nhà trường. Ví dụ Đại học Keio, năm 2015, số giảng viên và cán bộ hành chính là 8.595 người, số sinh viên là 32.410 người (sinh viên 28.855, học viên SĐH 3.555 người), nguồn thu đạt 1545 triệu yên, trong đó nguồn thu cao nhất là từ học phí, 534 triệu yên (chiếm khoảng 35% tổng thu), thu từ dịch vụ y tế (36%). Tuy nhiên mức đầu tư của Nhà nước cho các trường dân lập vẫn có, và Đại học Keio đạt 137 triệu yên, chiếm tỷ lệ đáng kể (9%) so với nguồn tài chính của trường.

    Thành tựu của quá trình tự chủ: Nhờ có chính sách tự chủ đại học, các trường đại học quốc lập đã phát huy cao nhất sự năng động, sáng tạo và tính linh hoạt trong các hoạt động, gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp, đẩy mạnh nghiên cứu, thúc đẩy KHCN và kinh tế phát triển, thích ứng được với những biến động và yêu cầu của thời đại, làm cho Nhật Bản luôn giữ vững được lợi thế cạnh tranh, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vào thập niên trước. Các trường đại học Nhật Bản vươn lên trong các bảng xếp hạng của thế giới: Năm 2004, Nhật Bản có 6 trường đại học lọt vào top 200 trường đại học hàng đầu của thế giới theo bảng xếp hạng QS là: The University of Tokyo, Kyoto University, Tokyo Institute of Technology, Osaka University, Tohoku University và Nagoya University, năm 2018 đã tăng lên thêm 3 trường vào top 200 đại học hàng đầu thế giới, là Hokkaido University, Kyushu University và Keio University, trong đó đáng chú ý Đại học Keio là đại học dân lập. Đồng thời tự chủ cũng giúp cho Nhà nước giảm được gánh nặng ngân sách.

    Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nhìn ra một số mặt trái của quá trình tự chủ đại học ở Nhật Bản. Trước tự chủ, Chính phủ quy định chặt qui mô biên chế, số giáo sư, số phó giáo sư, số giảng viên và trợ giảng. Sau tự chủ hóa, không còn hạn chế số biên chế kể trên. Tuy nhiên chi cho cán bộ do trường quyết nhưng mức lương vẫn theo qui định lương công chức viên chức nhà nước (và do đó không có sự gia tăng đáng kể). Và phúc lợi hưu trí có khung, nên trên thực tế các đại học bị buộc phải giữ số biên chế trước tự chủ hóa. Và như vậy, trên thực tế, tăng học phí, tự chủ biên chế, cũng như việc nhà trường được tự quyết xóa bỏ hoặc giải thể các đơn vị trong trường, nhưng hầu như những nội dung này không có sự thay đổi đáng kể trong quá trình tự chủ đại học ở Nhật Bản.

    Những mặt trái khác không thể không nhắc đến, như trong quá trình tự chủ hóa, ngân sách hỗ trợ hoạt động thường xuyên giảm đi, các đại học buộc phải giảm số giảng viên, nhất là giảng viên vị trí thấp như trợ giảng. Tự chủ cũng kéo theo sự già hóa tuổi bình quân của giảng viên ở hầu hết tất cả các đại học quốc lập (Năm 2004, tuổi trung bình của giảng viên là 46,4 tuổi; năm 2013 - 47,4 tuổi); làm giảm đi số giảng viên trẻ dưới 35 tuổi ( Năm 2004 - 13,4 %; Năm 2013 - 9,8%). Các trường tăng lên số giảng viên hợp đồng có thời hạn (Giảng viên dưới 35 tuổi, tỷ lệ tương ứng giảng viên năm 2007/2013 - hợp đồng không có thời hạn là 47,1%/52,9% và có thời hạn là 26,5% /73,5%). Tự chủ đại học cũng kéo theo sự gia tăng tỷ lệ các nhà nghiên cứu trẻ chưa có việc làm và thâm niên, ảnh hưởng xấu tới số lượng nghiên cứu sinh (NCS), ví dụ ở ĐH Tokyo năm 2010 tổng số NCS là 6141, trong đó NCS người Nhật là 4819, thì vào năm 2017, quy mô NCS là 5.771 (giảm 6%) và NCS người Nhật còn 4.360 (giảm 9,5%).

    Mô hình đại học 2 cấp khi tự chủ đại học

    Tự chủ đại học ở Nhật Bản tác động mạnh mẽ đến mô hình đại học 2 cấp.
    Chúng tôi sẽ phân tích qua ví dụ điển hình từ thực tiễn quá trình tự chủ hóa của ĐH Tokyo. Trước tự chủ, thực quyền của Giám đốc ĐH Tokyo không mạnh: Hội đồng giáo sư các trường và viện thành viên có quyền quyết định chương trình giảng dạy và tuyển dụng giảng viên. Căn cứ vào quyền hạn của Hội đồng giáo sư, các trường và viện thành viên thực chất đóng vai trò trung tâm trong việc vận hành ĐH Tokyo. Trước tự chủ Giám đốc ĐH Tokyo không có quyền tuyển dụng giảng viên cơ hữu (việc này do các trường, viện thành viên đảm nhiệm). Giám đốc Đại học đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Đại học, mặc dù Hội đồng này có quyền quyết định những vấn đề quan trọng về đào tạo và nghiên cứu của Đại học Tokyo, nhưng trên thực tế Giám đốc Đại học không có thực quyền lớn khác. Chỉ có hai Phó Giám đốc giúp việc Giám đốc. Trước tự chủ, Nhà điều hành ĐH Tokyo lại có thực quyền lớn vì các vị đứng đầu các ban chức năng làm việc tại Nhà điều hành vốn đã là cán bộ cao cấp của Bộ Giáo dục. Nhà điều hành thực chất như là chi nhánh của Bộ Giáo dục giám sát và quản lý ĐH Tokyo.
    Sau tự chủ, thực quyền của Giám đốc ĐH Tokyo rất lớn, vì chỉ có Đại học Tokyo trở thành pháp nhân độc lập. Và là người đại diện pháp nhân độc lập, Giám đốc Đại học Tokyo có quyền quyết định những vấn đề lớn của Đại học Tokyo. Giám đốc thành lập Hội đồng trường gồm có 7 người (thường là 6 vị Phó giám đốc và một vị đại diện bộ phận hành chính). Giám đốc có quyền chỉ định các thành viên Hội đồng trường. Khi tự chủ hóa, các trường và viện thành viên đều nhất trí cao rằng ĐH Tokyo phải có Giám đốc mạnh để tăng cường sức cạnh tranh của ĐH Tokyo.

    Quy trình bầu Giám đốc Đại học Tokyo khi tự chủ:
    1. Đại diện các đơn vị trực thuộc Đại học Tokyo bầu 10 người ứng viên.
    2. Ủy ban Tuyển dụng Giám đốc Đại học Tokyo chọn ra 5 người.
    3. Tất cả giảng viên cơ hữu tham gia bầu cử.
    4. Căn cứ vào kết quả bầu cử, Ủy ban Tuyển dụng quyết định ứng viên trúng cử.
    5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục bổ nhiệm Giám đốc mới dựa trên quyết định của Ủy ban.
    Còn đối với Hiệu trưởng, Viện trưởng các trường và viện thành viên thì Hội đồng giáo sư trực tiếp bầu.

    Như vậy có thể thấy, chỉ có các giáo sư, các giảng viên đại học mới là người có quyền được bầu và quyết định lãnh đạo trường đại học của mình. Vai trò của các giáo sư, giảng viên đại học rất lớn.

    Về tuyển sinh: Ngay cả khi tự chủ, tuyển sinh bậc đại học do cấp ĐH Tokyo quản lý tập trung, còn tuyển sinh bậc sau đại học thì phân cấp cho các trường sau đại học (Grauduate Schools) quản lý.

    Trước Tự chủ hóa: Hỗ trợ của ngân sách nhà nước được cấp trực tiếp cho các trường và viện thành viên theo định mức của Bộ (dựa vào số giảng viên, số sinh viên v.v..). Học phí thu vào Kho ngân sách nhà nước sau đó cấp cho Đại học.

    Sau tự chủ: Kinh phí chi hoạt động thường xuyên của ngân sách nhà nước được cấp cho Đại học, sau đó Đại học được tự quyết và phân bổ xuống các trường và viện thành viên. Học phí được thu vào ngân sách Đại học, sau đó Đại học phân bổ xuống các trường và viện thành viên.
    Riêng kinh phí NCKH, trước và sau tự chủ hóa, các trường và viện thành viên trực tiếp thu.

    Kinh phí Giám đốc ĐH Tokyo được sử dụng, trước tự chủ hóa chủ yếu để duy trì hoạt động của các ban chức năng cấp Đại học Tokyo (chủ yếu dùng cho các bộ phận hành chính ở Đại học), chiếm khoảng 2,6% tổng chi. Sau tự chủ hóa, kinh phí Giám đốc được sử dụng khoảng 4,9% tổng chi của toàn Đại học, gồm ngân sách nhà nước hỗ trợ nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Giám đốc Đại học (khoảng 0,3% tổng chi); nguồn được trích 3,1% từ nguồn thu NCKH (bằng khoảng 1,7% tổng chi); trích 1% kinh phí thường xuyên của các trường và viện thành viên (trừ quỹ lương) chiếm khoảng 0,3% tổng chi,… và được Giám đốc sử dụng để điều tiết các hoạt động của Đại học.

    Môt ví dụ về sự chia sẻ, hỗ trợ nguồn lực khi tự chủ: trước tự chủ, các trường và viện thành viên của ĐH Tokyo tự mua tạp chí khoa học trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Các nhà xuất bản lớn xây dựng các gói của nhiều loại tạp chí điện tử, sách và việc ký hợp đồng mua các gói tạp chí và sách cần nguồn tiền lớn, trường và viện không chịu được chi phí này. Sau tự chủ, nguồn kinh phí này được lấy từ kinh phí của các trường, viện thành viên và được ĐH Tokyo hỗ trợ. Chẳng hạn năm 2007, Đại học Tokyo cần 1 tỷ 150 triệu yên cho nguồn học liệu, thì phần các trường và các viện đóng góp là 850 triệu yên và phần ngân sách Giám đốc chi là 300 triệu yên.

    Khi tự chủ, hàng năm, ngân sách Nhà nước hỗ trợ hoạt động thường xuyên bị cắt giảm 1%; Giám đốc ĐH Tokyo yêu cầu các trường và viện thành viên phải giảm biên chế của mình mỗi năm là 1%, trong đó biên chế giảng viên giảm 1.2% mỗi năm. Trong đó 0.2% số giảm biên chế lại được tích lũy ở Văn phòng Giám đốc, và được Giám đốc điều tiết, sử dụng cho các nhóm nghiên cứu trọng điểm, các PTN hay các Trung tâm nghiên cứu hoặc Trung tâm dịch vụ mới.

    Đặc biệt kể từ khi tự chủ, văn phòng Giám đốc Đại học Tokyo có Hội đồng có chức năng tuyển dụng giảng viên (có quyền tương đương Hội đồng Giáo sư của các Trường và Viện thành viên khi chưa tự chủ).

    Cũng cần nhấn mạnh là mặc dù sau tự chủ, Giám đốc Đại học có quyền lực rất lớn, tuy nhiên cũng có cơ chế để giới hạn quyền lãnh đạo của Giám đốc. Ví dụ năm 2013, Giám đốc Hamada đề xuất thay đổi thời gian nhập học chính từ tháng 4 sang tháng 9 để hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đề xuất cải cách này đã trực tiếp đụng đến quyền xây dựng chương trình đào tạo của các trường thành viên nên một số trường phản đối khiến Giám đốc không thực hiện được ý tưởng này.

    Bài học từ ĐH Tokyo: Tự chủ đại học đã làm cho ĐH Tokyo mạnh và thực quyền hơn trước, và là nhân tố quan trọng giúp cho ĐH Tokyo phát triển và tăng trưởng bền vững, luôn là đại học hàng đầu, là đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học của Nhật Bản và luôn là một trong những đại học hàng đầu của Thế giới. Tự chủ hóa với mô hình đại học 2 cấp không phải là tước đoạt quyền của các trường và viện thành viên, tập trung quyền lực vào tay Giám đốc Đại học mà lại là tăng cường mối quan hệ trao đổi thường xuyên và hợp tác chặt chẽ giữa Giám đốc và các trường và viện thành viên. Một số giải pháp đã được ĐH Tokyo áp dụng như:
    • Tổ chức hội nghị Giao ban Giám đốc và các ban ở đại học với các Hiệu trưởng và Viện trưởng định kỳ hai tuần một lần.
    • Văn phòng Giám đốc có Trợ lý Giám đốc do các trường và viện thành viên cử (nhiệm kỳ một năm, phó giáo sư trên dưới 40 tuổi).
    Đồng thời bộ phận hành chính, các ban của Đại học cũng có sự thay đổi.
    Trước tự chủ:
    - Các ban giám sát và quản lý các trường và viện thành viên làm đúng theo quy trình, quy chế của Bộ.
    - Trong bộ máy hành chính ít có sự luân chuyển nhân sự giữa Đại học và các trường và viện thành viên (các trường và các viện có đội ngũ hành chính riêng của mình và một bộ phận suốt đời làm việc tại một chỗ).
    Sau tự chủ hóa:
    - Chức năng chính của các ban là giúp Giám đốc xây dựng và thực hiện chiến lược trung hạn, và hỗ trợ các trường và các viện thành viên thực hiện ý tưởng của mình.
    - Các ban được khuyến khích sáng tạo, có những ý tưởng đột phá hơn là chỉ làm đúng theo quy trình.
    - Có sự luân chuyển nhân sự thường xuyên giữa các ban cấp Đại học và các phòng ban của các trường và viện thành viên.

    Từ những kinh nghiệm và bài học trong quá trình tự chủ đại học đã rất thành công ở Nhật Bản, chúng tôi hy vọng qua bài viết này sẽ góp phần sáng tỏ thêm cho hành trình đổi mới và tìm tòi cơ chế tự chủ phù hợp cho các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, ĐHQGHN

    Đọc tiếp

    GS Nguyễn Đình Đức: 3 thành tựu nổi bật của giáo dục đại học Việt Nam

    THÀNH TỰU NỔI BẬT CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM QUA 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/TW-2013 VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp chấn hưng đất nước.  Giáo dục đại học (bao gồm cả đào tạo đại học, sau đại học) là cấu thành vô cùng quan trọng của hệ thống giáo dục, bởi nói đến giáo dục đại học là nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao - chính là giá trị cốt lõi - là chìa khóa để đất nước chúng ta có thể nắm bắt được những thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại và những vận hội mới, đưa đất nước ta vượt qua thách thức, tiến lên phía trước, sánh vai với các nước năm châu.

    Đúng 5 năm trước đây, trong Nghị Quyết 29/TW ngày 04-11-2013 của BCH Trung ương (sau đây gọi tắt là NQ29) đã nhận định “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp’’ và đã chỉ ra giáo dục đại học “tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”.

    Sau 5 năm triển khai thực hiện NQ29, đã có nhiều hội nghị, hội thảo tổng kết và đánh giá toàn diện và đầy đủ ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, khái quát lại , tôi thấy về tổng thể, giáo dục đại học có một số thành tựu lớn, nổi bật như sau:

            Một là, giáo dục đại học Việt Nam đã hội nhập và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế

             Có thể thấy chưa bao giờ giáo dục của Việt Nam đổi mới nhanh và mạnh mẽ, tiếp cận các chuẩn mực của quốc tế như những năm qua. Minh chứng cho nhận định này có thể thấy qua việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học, xếp hạng đại học.

    Các cơ sở giáo dục đại học của chúng ta không thể hội nhập với thế giới nếu không được kiểm định chất lượng. Người tốt nghiệp có tấm bằng của cơ sở giáo dục hoặc của chương trình đào tạo đã được kiểm định có cơ hội công ăn việc làm và hội nhập tốt hơn. Đến nay, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục đại học đều đã có đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng. Tính đến tháng 5/2016, có 229/266 (chiếm 86,1%) cơ sở giáo dục đại học do Bộ GDĐT quản lý đã thành lập được đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng, một số trường còn lại giao một số cán bộ phụ trách hoạt động đảm bảo chất lượng. Cả nước hiện nay có 05 Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục đươc thành lập và được cấp phép hoạt động. Đã tổ chức 5 đợt tuyển chọn và cấp thẻ kiểm định viên, có 346 người đã được cấp thẻ kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.

    Tính đến ngày 31/8/2018, có 218 cơ sở giáo dục đại học và 33 trường cao đẳng sư phạm hoàn thành tự đánh giá; 124 cơ sở giáo dục đại học và 03 trường cao đẳng sư phạm được đánh giá ngoài, trong đó 117 cơ sở giáo dục đại học và 03 trường cao đẳng sư phạm đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 10 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 06 trường đại học được đánh giá ngoài và được công nhận theo tiêu chuẩn đánh giá cơ sở giáo dục của Hội đồng Cấp cao về Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp (HCERES) và Mạng lưới đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA); 107 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và công nhận.

    Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng theo các tiêu chí chuẩn mực của khu vực  và thế giới. Trong những năm gần dây, hoạt động kiểm định đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là các cấp quản lý giáo dục, các nhà trường được tiếp cận với mô hình quản lý hiện đại, tiên tiến. Qua tự đánh giá, đánh giá ngoài nhiều nhà trường đã thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đã xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng sát thực và hiệu quả hơn. Các cơ sở giáo dục đã thay đổi cách nhìn nhận về công tác quản lý và chỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà trường và quản lý dạy, học. Kiểm định chất lượng giáo dục tạo động lực cho công tác đánh giá nói chung, góp phần quan trong thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập với thế giới.

    Bên cạnh hoạt động kiểm định, xếp hạng đại học là hoạt động cũng được Bộ giáo dục Đào tạo và các trường đại học Việt Nam đặc biệt coi trọng trong những năm qua. Nếu kiểm định phản ánh chất lượng thì xếp hạng đại học nói lên đẳng cấp.

    Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, vào năm 2018, 2 Đại học Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago, thứ hạng cũng dần được cải thiện. Ngoài ra, còn có 3 cơ sở GDĐH được chứng nhận 3 sao theo QS-Stars. Có thể thấy những thành tựu về kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học là minh chứng cho sự thành công, sự chuyển mình, cho sự đổi mới toàn diện và hội nhập của giáo dục đại học Việt Nam với quốc tế trong thời gian qua.

              Hai là, tạo được sự đột phá, chuyển biến về chất lượng. Công bố quốc tế, chất lượng đội ngũ giảng viên và chất lượng người học ở bậc đại học và sau đại học đã có những bước nhảy vọt, đột phá so với giai đoạn trước

    Trong thời gian 5 năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, trong đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo. Chất lượng đầu ra của người học về ngoại ngữ và chuyên môn đều yêu cầu cao hơn so với trước đây. Đặc biệt về ngoại ngữ đến nay đã có những bước tiến quan trọng: chuẩn đầu ra về ngoại ngữ bậc đại học là B1; chuẩn đầu vào với thạc sĩ là B1 và B2 với NCS. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo còn yêu cầu phải trang bị kiến thức về CNTT và các kỹ năng mềm cho người học. Đây là những chỉ đạo và định hướng đổi mới giáo dục đại học hết sức quan trọng, đúng đắn và kịp thời.

    Mặt khác, trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu thường chỉ được chú trọng ở các đại học lớn. Sau khi có NQ29, để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm chỉ đạo triển khai ở tất cả các trường đại học. Các trường đại học đã chú trọng xây dựng các nhóm nghiên cứu (NNC) để tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Ngoài hai Đai học Quốc gia, nhiều trường đại học đã xác định mục tiêu phát triển thành các đại học nghiên cứu tiên tiến. Theo báo cáo khảo sát của Bộ giáo dục Đại học, tính đến hết năm 2017 trong các trường đại học có 945 NNC, một trường đại học có trung bình 7 NNC trong đó cơ sở đào tạo có nhiều nhóm nghiên cứu nhất là Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, ĐHQG Hà Nội, ĐH Tây Nguyên,..

    Thành tích lớn nhất của 5 năm qua là chúng ta đã tạo được sự chuyển biến đột phá về chất lượng. Chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế. Nếu như trước đây, GS, PGS,TS không yêu cầu bắt buộc có công bố quốc tế, thì nay, với quy chế mới về tiêu chuẩn chức danh, bắt buộc yêu cầu GS,  PGS và cả các  NCS khi bảo vệ luận án đều phải có công bố quốc tế.

    Nếu như năm 2006, mới có anh Trần Hữu Nam, NCS ngành toán của ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN lần đầu tiên làm NCS trong nước đã công bố được 1 bài ISI trong quá trình làm luận án(và đã được đặc cách bảo vệ sớm luận án TS, thì nay 80% các NCS trong lĩnh vực KHTN- CN của ĐHQGHN, cũng như nhiều NCS của ĐH Bách Khoa Hài Nội, ĐH Y Hà Nội, ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Duy Tân  và nhiều trường đại học khác khi bảo vệ luận án TS đều đã có công bố quốc tế ISI,....Cá biệt có những trường hợp đặc biệt xuất sắc như NCS Trần Quốc Quân, NCS Phạm Hồng Công – ngành Cơ học Kỹ thuật của Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN, từ khi là sinh viên đến khi bảo vệ luận án TS chỉ có 3 năm (được chuyển tiếp NCS) và mỗi em đã có khoảng 20 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI có uy tín, còn hơn nhiều NCS được đào tạo hoàn toàn ở nước ngoài).

    Nhờ nâng chuẩn chất lượng và có chính sách hỗ trợ cho nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu, công bố quốc tế của Việt Nam đã đặc biệt tăng mạnh trong 3 năm gần đây. Năm 2013, trước khi có NQ 29, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2309 bài, thì theo thống kê mới đây nhất của nhóm nghiên cứu độc lập của ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 6/2018, chỉ riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam hàng đầu trong danh sách này đã đạt 10.515 bài, và hơn cả giai đoạn 5 năm trước 2011-2015, khi đó toàn Việt Nam, trong 5 năm mới có 10.034 bài.

    Nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế đã trở thành tiêu chí bắt buộc của giảng viên đại học. Công văn việc làm, kiến thức chuyên môn song hành với ngoại ngữ và kỹ năng mềm cho người học là kim chỉ nam cho hoạt động đào tạo trong các trường đại học hiện nay. Cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang có sự chuyển biến và đột phá về chất hết sức quan trọng, theo các yêu cầu và chuẩn trình độ quốc tế.

     Ba là, chăm lo đào tạo và bồi dưỡng nhân tài; có sự chuyển dịch mạnh mẽ và kịp thời cơ cấu ngành nghề, nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0.

                  Một thành tựu nữa không thể không nhắc đến là đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Bên cạnh các chương trình đào tạo chuẩn, Bộ giáo dục và Đào tạo còn chỉ đạo các trường đại học tích cực triển khai các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến, chất lượng cao để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Chương trình tài năng đào tạo các cử nhân, kỹ sư có năng khiếu trong lĩnh vực khoa học cơ bản (cử nhân tài năng) và kỹ thuật công nghệ (kỹ sư tài năng). Chương trình đào tạo tiên tiến là các chương trình đào tạo bậc đại học, áp dụng cho các ngành khoa học tự nhiên-công nghệ, sử dụng toàn bộ chương trình, giáo trình của một đại học nước ngoài, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt và cấp kinh phí triển khai thực hiện. Đội ngũ giảng viên tham gia chương trình là của Việt Nam và một số giảng viên nước ngoài, nhằm phát triển quốc tế hóa chương trình đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực toàn cầu. Bên cạnh đó, với chương trình 911, 322, chúng ta đã cử đi đào tạo được hàng nghìn trí thức trẻ, ưu tú ở nước ngoài.

    Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển nhanh chưa từng có kéo theo yêu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao và đang tạo ra những cơ hội cũng như thách thức với giáo dục đại học. Giáo dục đại học Việt Nam bước đầu đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề phù hợp. Theo số liệu tổng kết năm học 2016-2017 của Bộ giáo dục và Đào tạo, tổng quy mô sinh viên (SV) ĐH là 1.767.879 sinh viên, giữ khá ổn định so với những năm trước; quy mô SV cao đẳng sư phạm giảm 14,3%, chỉ còn 47.800 SV. Phần lớn SV tập trung theo học các ngành thuộc Khối ngành V, III: Toán và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thuỷ sản; Thú y và Khối ngành: kinh doanh quản lý, pháp luật. Tính từ đầu năm 2016 đến 31/7/2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ ĐH là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật. Mới đây, Bộ Giáo dục Đào tạo cũng đã có công văn 5444/BGDĐT-GDĐH ngày 16/11/2017 ban hành cơ chế đặc thù về đào tạo CNTT, cho phép sinh viên các ngành khác được học thêm văn bằng 2, chính quy về CNTT. Một số ngành mới khác như an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, robotic, khoa học dữ liệu, công nghệ hàng không vũ trụ đã được mở ở ĐHQGHN; các ngành tự động hóa, CNTT, khoa học máy tính, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano,...được giảng dạy và đào tạo ở nhiều  trường đại học trong cả nước, cho thấy ngành giáo dục đại học của chúng ta đang đi đúng hướng, bắt nhịp được với xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.0 đang diễn ra khắp nơi cũng như trong tất cả các lĩnh vực trên thế giới.

               Tóm lại, trong 5 năm thực hiện NQ 29, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Bài viết này muốn tổng kết và nhấn mạnh đến 3 thành tựu nổi bật của giáo dục đại học Việt Nam đã làm được trong 5 năm qua, đó là chúng ta đã hội nhập và theo chuẩn mực của quốc tế; đã có sự đột phá về chất lượng và có sự chuyển mình mạnh mẽ về chương trình đào tạo, cơ cấu nguồn nhân lực. Những thành tựu đổi mới đó tác động đến toàn bộ hoạt động của ngành giáo dục, và sâu xa hơn, đến toàn thể xã hội, chi phối và làm đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục của nước nhà. Thành quả lớn lao nhất là từ chính những đổi mới đó, chúng ta đã đào tạo được đội ngũ cán bộ kế cận và nguồn nhân lực có chất lượng, có trình độ cao, trẻ tuổi tài năng, đủ sức gánh vác sứ mệnh lớn lao và vẻ vang của đất nước  trong giai đoạn mới.

    GS.TSKH Nguyễn Đình ĐứcĐại học Quốc gia Hà Nội

          

     

     

     

     

    Đọc tiếp

    Chúc mừng sinh nhật GS Nguyễn Đình Đức

    Chúc mừng sinh nhật GS Nguyễn Đình Đức: 11/10

    Đại diện BGH Trường ĐHCN, các đồng  nghiệp, học trò chân thành chúc mừng sinh nhật GS Nguyễn Đình Đức - Trưởng PTN, Chủ nhiệm Bộ môn. GS là người  đã dày công gây dựng nhóm nghiên cứu, sáng lập Phòng Thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến, sáng lập Bộ môn (Khoa) Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng - Giao thông - người đã dìu dắt bao thế hệ học trò đi đến thành công.

    Xin cảm ơn Thầy.  Các thế hệ học trò xin gửi tới người Thầy đáng kính lời tri ân, tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, và kính chúc Thầy luôn dồi dào sức khỏe, luôn thật nhiều niềm vui và hạnh phúc, cống hiến thật nhiều cho khoa học và cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.  Chúng em rất tự hào về Thầy.

     IMG_3373

     

    Đọc tiếp

Running over to the computer lab doesn’t sound like https://essayclick.net/ a big deal now
launchporn pornorodeo porndick pornrelation
eryaman escort
bodrum escort
turk porno
ankara escort
member porn
bayan escort